Các Nhà Đầu Tư Phố Wall Sẽ Mạo Hiểm Hơn Sau Những Thay Đổi Của Luật Volcker

0

Hầu bao của những nhà mạo hiểm hàng đầu vốn vẫn được giữ chặt trong tài khoản, nay có thể nhảy ra với những thay đổi của Luật Volcker vào tuần trước.

Goldman Sachs và Morgan Stanley là những người rất có khả năng sẽ nhân cơ hội này để giao dịch thông qua lợi nhuận cố định, hàng hóa và tài sản.

“Volcker 2.0” hiện vẫn đang trong thời gian 60 ngày xem xét sẽ giảm gánh nặng trên các giao dịch ngắn hạn và cho phép các ngân hàng thời gian để xác định mức rủi ro của mình.

Các giao dịch viên của Golman Sachs đã thua lỗ 180 triệu đô la vào năm ngoái do đặt cược cao vào thị trường khí gas thiên nhiên, thành tích tệ hại nhất trong lịch sử ngân hàng này trong giao dịch hàng hóa với tư cách là một tập đoàn đại chúng.

Ngân hàng được coi là tổ chức quyền lực nhất trong lĩnh vực giao dịch hàng hóa này đã tự đặt mình vào vị trí rủi ro trước những biến động của giá gas, vốn chưa bao giờ cụ thể, theo nhận định của một người am hiểu trong lĩnh vực này. Trong khi đó tại đối thủ Morgan Stanley, các giao dịch viên về năng lượng và khí đốt dẫn đầu bởi Jay Rubenstein đã thu về 400 triệu đô la lợi nhuận cho ngân hàng này vào năm ngoái.

Kinh nghiệm lớn rút ra ở phố Wall sau cuộc khủng hoảng tài chính cho thấy sự thắt chặt về luật pháp và gia tăng giao dịch qua máy đã chế ngự những giao dịch viên khỏi những khoản cược khổng lồ, đặt mức trạng thái trần và mức bồi thường của họ. Điều này đúng trong hầu hết các trường hợp. Tuy nhiên, hầu bao của những nhà đầu tư ưa mạo hiểm lớn vốn đang giữ chặt trong tài khoản ngân hàng nay có thể nhảy ra khỏi túi do những thay đổi được đề xuất trong Đạo luật Volcker.

Căn cứ vào việc luật mới có thể hoán đổi mạnh mẽ trạng thái của phiên giao dịch từ có tội sang vô tội, các giao dịch viên và kiểm soát của họ sẽ cảm thấy dễ thở hơn khi chấp nhận rủi ro ở mức cao hơn so với quy định hiện tại của luật Volcker, một nguồn thông tin nhận định. Với viễn cảnh thị trường có thể sẽ biến động sau nhiều năm trầm lắng, sự nới lỏng về luật pháp có thể đã đến đúng thời điểm cho các ngân hàng đầu tư.

Goldman và Morgan Stanley, có trụ sở đặt tại New York, được nhận thấy sẽ nhân cơ hội này để giao dịch hàng hóa và tài sản vốn qua mức thu nhập cố định của họ. Ngân hàng Bank of America và Barclays cho biết họ cũng có thể sẽ chấp nhận mức rủi ro cao ở các lĩnh vực như các khoản nợ xấu và tài sản vốn.

Kết luận: Điều quan trọng là số nhà đầu tư phố Wall hoặc sẽ bứt phá thị trường, hoặc sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, sẽ tăng lên.

THỊ TRƯỜNG MỞ RỘNG

Các ngân hàng đang rất quả quyết là những giao dịch của họ đang khiến cho thị trường trở nên dễ dàng. Không một ai thừa nhận rằng bất cứ giao dịch nào trong bài viết này vi phạm điều luật Volcker. Hơn nữa, những quyết định mạo hiểm một cách thận trọng của ngân hàng có thể đẩy nhanh tính thanh khoản của thị trường và đóng vai trò điều tiết những biến động về giá.

Tuy nhiên câu hỏi ngân hàng loại nào thì được phép làm điều đó lại được đặt ra kể từ khi Quỹ dự trữ liên bang đã đưa ra đề xuất thay đổi đạo luật Volcker vào tuần trước, vốn đang ngăn cấm các ngân hàng tham gia vào những cuộc đầu tư mạo hiểm thuần túy. Động thái này là một phần của những thay đổi cách mạng trong luật ngân hàng mà các nhà phê bình cho rằng đang quá nặng nề và kìm hãm sự vận hành ở một số thị trường.

Luật thương mại, đặt tên theo Cựu chủ tịch của quỹ dự trữ liên bang Paul Volcker, cũng là người đề xướng luật, được đặt ra nhằm hạn chế các ngân hàng hoạt động trong vai trò là một quỹ đầu tư được bảo đảm bằng tiền gửi. Luật này vẫn cho phép các ngân hàng tạo dựng thị trường, hoặc giúp các khách hàng mua bán tài sản.

Nhưng ranh giới giữa việc giao dịch có đảm bảo và tạo dựng thị trường rất mong manh, do ngân hàng thường mua bán các tài sản không thay đổi chủ sở hữu thường xuyên, mà thực chất là đánh cược nhằm phục vụ cho thị trường. Do đó, họ được phép tham gia vào mua bán quyền sở hữu tài sản nếu họ cho rằng điều đó phục vụ cho yêu cầu của khách hàng, một lĩnh vực mập mờ mà các giao dịch viên thường dùng để đặt những khoản cược sinh lợi.

VÀI NÉT VỀ VOLCKER 2.0

Những thay đổi trong luật Volcker, hiện vẫn đang trong giai đoạn 60 ngày xem xét dưới tên Volcker phiên bản 2.0, đã tháo gỡ gánh nặng về báo cáo trên các khoản giao dịch ngắn hạn và thay thế quy định các giao dịch viên chỉ có thể lấy trạng thái phòng ngừa nhu cầu trong ngắn hạn sang cho phép các ngân hàng thêm thời gian chậm trễ để thiết lập hạn mức rủi ro riêng của mình.

Những kết quả kinh doanh khác nhau một trời một vực giữa Goldman Sachs và Morgan Stanley vào năm ngoái là những ví dụ của việc chấp nhận rủi ro đã xảy ra trong giới đầu tư này.

Trong một ví dụ khác, một giao dịch viên của Golman Sachs là Thomas Malafronte đã kiếm được 250 triệu đô la vào năm 2016 thông qua duy trì nhiều trạng thái lớn trong mua bán nợ của các nhà bán lẻ và công ty năng lượng, theo tin Bloomberg tại thời điểm đó. Trong năm nay, nhóm giao dịch các công cụ phái sinh điều hành bởi David Casner, đã tạo ra 200 triệu đô lợi nhuận chỉ trong 1 ngày vào tháng 2 với các trạng thái giao dịch tại một danh mục biến động.

Theo một chuyên gia giàu kinh nghiệm, còn có rất nhiều các nhà đầu tư thâm niên khác tại các ngân hàng đầu tư toàn cầu có thể, nếu có cơ hội và được phê duyệt bởi hội đồng kiểm soát rủi ro, được cho phép thời gian lâu hơn cho những mạo hiểm có định hướng. Đôi khi chỉ một phần nhỏ trong khoản giao dịch ban đầu được chuyển sang cho khách hàng dưới dạng tạo lập thị trường, trong khi phần còn lại được nắm giữ để kiếm lời, người này nhận xét.

Những khoản giao dịch nhiều rủi ro nhưng sinh lợi cao hơn đang được nhận xét là giúp các phòng kinh doanh ngoại hối rộng mở cho khách hàng, vì giao dịch nhà cái thuần túy đang trở nên kém hấp dẫn giữa những thị trường tương đối bình lặng và mức chênh lệch giá thấp giữa người mua và người bán.

“Nếu bạn là người tạo lập thị trường và bạn không nắm lấy cơ hội chấp nhận rủi ro để kiếm được khoản bù đắp tương xứng, tại sao bạn lại trả tiền cho một người có khả năng chỉ để họ không làm thế?”, một giao dịch viên từ chối tiết lộ danh tính tại một tập đoàn tài chính lớn của phố Wall khẳng định. “ Đôi khi bạn phải sử dụng thông tin của mình và làm việc đó một cách thành thạo khi bạn có được tiền lời từ khoản rủi ro đó”.

KHÔNG CÓ TIỀN LỜI Ở CÁC MỨC ĐỘ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG

Ngay cả khi đứng giữa các chỉ trích nhằm vào đạo luật Volcker, có rất ít ngân hàng chấp nhận quay trở lại những ngày đen tối của thập kỷ trước khi tỷ trọng nợ của ngành cho thấy chỉ một thay đổi nhỏ trong giá trị tài sản có thể đánh sụp cả một hệ thống. Tất cả các giới hạn khác trong thời kỳ hậu khủng hoảng mà ngân hàng cần tuân thủ, bao gồm luật về vốn, tỷ trọng nợ, tính thanh khoản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc phải góp phần hạn chế giao dịch ngoài tầm kiểm soát.

Những tay đổi này, có thể được phê duyệt bởi 5 cơ quan quản lý liên bang của Mỹ vào cuối năm nay, sẽ tạo ra những khác biệt mạnh mẽ trong thời kỳ khủng hoảng tới, tổng giám đốc J.P Morgan Chase Jamie Dimon phát biểu vào tuần trước trong một cuộc họp báo.

“Đây có thể không phải là thay đổi lớn trong thời gian này, nhưng rất có khả năng sẽ tạo ra tính thanh khoản nhiều hơn trong những giai đoạn xấu, lúc bạn thực sự cần chúng”, Dimon cho biết. “Vào những lúc đó, bạn muốn nhà cái ngay lập tức đóng vai trò trung gian một cách quyết liệt, cho bạn tất cả quyền mua và bán, thay đổi danh mục đầu tư, điều chỉnh dòng tiền. Và bạn cần điều đó. Một vài ngân hàng thực sự đã làm như vậy trong giai đoạn khủng hoảng”.

Một cách ngẫu nhiên, đó cũng là khi các giao dịch viên kiếm được khoản tiền lời và thù lao khổng lồ. Biên độ dao động giữa mua và bán ở mức cao nhất trong giai đoạn hỗn loạn, khi các quỹ phòng ngừa rủi ro và các nhà quản lý tài sản đang tìm cách bán ra một cách tuyệt vọng. Golman Sachs đã có những phiên giao dịch thành công nhất vào năm 2009, khi họ kiếm được nhiều hơn 30 tỷ đô la Mỹ.

Khi tất cả mọi người đều muốn bán, tin tốt khi bạn chính là đối tác của cứu cánh cuối cùng.

Giang Trần – Theo CNBC