Cổ Phiếu Vốn Hóa Nhỏ Và Cổ Phiếu Vốn Hóa Lớn

0
125

Nghĩa của hai từ “vốn hóa lớn” (big cap) và “vốn hóa nhỏ” (small cap) nằm ngay trên mặt chữ: cổ phiếu vốn hóa lớn thuộc về những công ty lớn và cổ phiếu vốn hóa nhỏ thuộc về những công ty nhỏ hơn. Đây là một cách phân loại đơn giản nhưng có thể gây nhầm lẫn. Nếu không phân tích được những cổ phiếu vốn hóa nhỏ có thể trở nên lớn như thế nào, bạn sẽ bỏ lỡ những cơ hội đầu tư hấp dẫn.

           

50dbb630 9f21 11e9 baa5 dd214ed0de8f image hires 205358 - Cổ Phiếu Vốn Hóa Nhỏ Và Cổ Phiếu Vốn Hóa Lớn

Những cổ phiếu đang mở rộng quy mô vốn hóa

Cổ phiếu vốn hóa nhỏ thường được xem là cơ hội đầu tư lớn do định giá thấp, tiềm năng tăng trưởng thành cổ phiếu vốn hóa lớn, nhưng định nghĩa về nhóm cổ phiếu này đã thay đổi theo thời gian. Cổ phiếu được xem là vốn hóa lớn năm 1980 ngày này chỉ nằm trong nhóm vốn hóa nhỏ. Bài viết này sẽ đi sâu vào khái niệm vốn hóa và giúp nhà đầu tư nắm rõ các thuật ngữ thường được sử dụng.

Trước tiên, chúng ta cần định nghĩa từ “vốn hóa” (cap) viết tắt của giá trị vốn hóa thị trường (market capitalization), bằng với giá cổ phiếu nhân với số cổ phiếu đang lưu hành. Nhìn chung, con số này cho thấy thị trường ước tính “giá trị” của công ty lớn như thế nào. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dù khái niệm vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường của một công ty, thực tế thì bạn cần phải lưu ý tới số trái phiếu đang giao dịch công khai của công ty đó nếu có.

Những gã khổng lồ

Cổ phiếu vốn hóa lớn gọi tên những công ty đại chúng lớn nhất như General Electric và Walmart, hay còn gọi là cổ phiếu bluechip. “Vốn hóa lớn” cũng được cho là đồng nghĩa với ít rủi ro hơn trong khi “vốn hóa nhỏ” tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng không phải luôn là như vậy. Tuy nhiên sự thật vẫn là quy mô càng lớn, công ty càng khó sụp đổ.

Dow so với Nasdaq: Vốn hóa thị trường trung bình của Dow lớn hơn nhiều so với vốn hóa thị trường trung bình của Nasdaq 100.

Xếp hạng vốn hóa

Định nghĩa của vốn hóa lớn và vốn hóa nhỏ có chút khác biệt giữa các nhà môi giới và đã thay đổi trong thời gian qua. Khác biệt giữa định nghĩa của các nhà môi giới tương đối không quan trọng, vấn đề chỉ là các công ty nằm ở ranh giới phân chia. Cách thức phân loại này rất quan trọng đối với các công ty đó vì các quỹ tương hỗ sẽ quyết định mua cổ phiếu nào theo đó.

Định nghĩa thường dùng nhất ở hiện tại:

  • Mega Cap (vốn hóa siêu lớn) – vốn hóa thị trường từ 200 tỷ đô la trở lên
  • Big Cap (vốn hóa lớn) – 10 tỷ đô la trở lên
  • Mid Cap (vốn hóa trung bình) – 2 tỷ đến 10 tỷ đô la
  • Small Cap (vốn hóa nhỏ) – 300 triệu đến 2 tỷ đô la
  • Micro Cap (vốn hóa siêu nhỏ) – 50 triệu đến 300 triệu đô la
  • Nano Cap (vốn hóa siêu siêu nhỏ) – Dưới 50 triệu USD

Các mốc phân loại đã tăng theo thời gian, cùng với các chỉ số thị trường. Cần lưu ý rằng bộ khung này không hề cố định. Ví dụ, hồi đầu những năm 1980, cổ phiếu vốn hóa lớn chỉ cần có giá trị thị trường trên 1 tỷ USD. Ngày nay, cổ phiếu đó sẽ được xem là vốn hóa nhỏ. Những con số này cũng sẽ giảm nếu thị trường giảm phát

Những con số đang dần thay đổi

Cổ phiếu vốn hóa lớn là nhóm nhận được nhiều sự chú ý nhất từ Phố Wall, vì đây là nơi mà các ngân hàng đầu tư ăn nên làm ra nhất. Tuy nhiên, nhóm này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong số các cổ phiếu đại chúng. Phần đa cổ phiếu đại chúng nằm trong nhóm vốn hóa nhỏ.

Có 17 cổ phiếu vốn hóa siêu lớn trong năm 2007, nhưng con số đó đã giảm còn dưới 5 vào năm 2010 do cuộc khủng hoảng thế chấp năm 2008 và cuộc Đại Suy Thoái. Trong năm 2017 và 2018, nhóm này đã hồi sinh, những gã khổng lồ như Apple, Inc. (AAPL) đã đạt tới mức giá trị thị trường cao nhất trong lịch sử.

Điểm mấu chốt

Các nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và nhỏ đều đi liền với những sàn chứng khoán và các chỉ số khác nhau, gây ra một số nhầm lẫn. Chỉ số Công nghiệp Dow Jones được xem là chỉ bao gồm các cổ phiếu vốn hóa lớn trong khi Nasdaq thường được xem là bao gồm các cổ phiếu vốn hóa nhỏ. Quan niệm này có thể đúng vào trước năm 1990 nhưng hiện tại thì không. Kể từ khi thị trường công nghệ bùng nổ, giá trị vốn hóa thị trường của các sàn giao dịch và chỉ số thay đổi, không còn phân tầng quy mô như trước.

Các phân loại ra vốn hóa lớn và vốn hóa nhỏ chỉ mang tính chủ quan, tương đối và thay đổi theo thời gian. Vốn hóa lớn không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với ít rủi ro hơn, nhưng các cổ phiếu lớn là những cổ phiếu được theo dõi chặt chẽ nhất bởi các nhà phân tích Phố Wall. Tuy nhiên, sự chú ý này thường có nghĩa là đấu trường của các cổ phiếu vốn hóa lớn không có những cổ phiếu giá trị mà những nhà đầu tư theo trường phái này tìm kiếm.

TÓM TẮT Ý CHÍNH

Cổ phiếu vốn hóa lớn không phải luôn có nghĩa là lợi tức đầu tư lớn hơn.

Cổ phiếu vốn hóa nhỏ có thể tăng trưởng thành cổ phiếu vốn hóa lớn theo thời gian.

Đầu năm 2019, những tên tuổi hàng đầu trong nhóm các công ty vốn hóa lớn là Microsoft (MSFT), Apple (AAPL) và Alphabet (GOOGL).

Không nên bỏ qua các cổ phiếu vốn hóa trung bình và vốn hóa nhỏ khi cần xác định một danh mục đầu tư đa dạng.

Vân Anh – Theo investopedia

Đăng ký nhận ngay BONUS

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here