Nguyên Tắc Tối Thượng Trong Đầu Tư – Phần 1

0

Phần 1: Nhận thức về cổ phiếu

Warren Buffet từng nói “Nguyên tắc số 1: Đừng bao giờ để mất tiền. Quy tắc số 2: Không bao giờ quên quy tắc số 1”.

Với tất cả sự tôn kính dành cho ông, trong đầu tư không hề có thứ gì mà “không mất tiền” cả.

Thực chất cả đoạn phát biểu trên rất vô lý. Bất cứ nhà đầu tư nào cũng từng làm mất tiền không lần này thì cũng lần khác. Ngay cả bản thân Buffett cũng từng hai lần thua lỗ hơn 50% (như trong hình). Bị thua lỗ là một chuẩn bình thường, chứ không phải ngoại lệ. Đó là cái giá nhà đầu tư phải trả để đổi lấy mức lợi nhuận cao hơn so với việc tiết kiệm mà không có rủi ro.

Như vậy, quy tắc số 1 trong đầu tư là gì?

Đây là câu hỏi khá hóc búa, nhưng phải chọn ra đáp án hợp lý nhất, đó sẽ là câu trích dẫn từ Peter Lynche : “phải hiểu rõ được bạn đang sở hữu cái gì và vì sao bạn sở hữu nó.” Nếu như nhà đầu tư không nắm bắt được tư tưởng đó thì sẽ không thể giữ được bất kỳ khoản đầu tư nào đủ lâu để gặt hái được lợi ích của lãi kép. Một nhà đầu tư có thể có tài sản/chiến lược tốt nhất thế giới, nhưng nếu không hiểu về nó, anh ta sẽ từ bỏ nó ngay từ dấu hiệu trở ngại đầu tiên. Và trên thực tế là sẽ có rất nhiều trở ngại.

Hầu hết các cố vấn tài chính ngày nay tập trung vào chủ đề phân bổ tài sản cho khách hàng của họ, điển hình là về danh mục đầu tư hòa trộn của nhiều loại cổ phiếu và trái phiếu. Đây là một khởi đầu tốt, vì phân bổ tài sản là yếu tố quan trọng nhất quyết định lợi nhuận của danh mục đầu tư.

Nhiều nhà tư vấn xem xét việc phân chia 60/40 giữa các cổ phiếu và trái phiếu của Mỹ là khởi điểm thích hợp cho một nhà đầu tư thông thường. Nếu nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cao hơn, tỷ lệ này có thể là 70/30 (80/20, v.v.) và nếu nhà đầu tư có xu hướng thận trọng hơn có thể chọn tỷ lệ 50/50 (40/60, v.v.)

Ưu điểm của danh mục đầu tư cổ phiếu/trái phiếu là:

1) Chi phí thấp (ít hơn 0.04% khi đầu tư vào quỹ ETF),

2) Cách thực hiện đơn giản (trường hợp ít nhất là hai quỹ chỉ số) và

3) Dễ hiểu, ít nhất theo lý thuyết. Nhà đầu tư sẽ có một thành phần tăng trưởng (cổ phiếu) và một thành phần dự phòng cho lãi suất/vốn (trái phiếu) để cân bằng rủi ro từ cổ phiếu.

Khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp, chỉ có vài cố vấn bị đặt câu hỏi về cách tiếp cận này. Chỉ đến khi mức thua lỗ lồ lộ ra thì những lời phàn nàn mới xuất hiện:

“Tại sao chúng ta lại nắm giữ quá nhiều cổ phiếu như vậy? Ông có biết rằng tôi đã mất hàng ngàn đô la không? Ông tính sao đây?”

Đây chính là lúc mà các cố vấn tài chính kiếm được miếng cơm manh áo, vì để giữ cho các nhà đầu tư tiếp tục đầu tư là không dễ dàng. Các cố vấn giỏi nhất không thụ động chờ đợi những lời càu nhàu đó mà chủ động chỉ bảo cho khách hàng của họ về những gì họ sở hữu và lý do họ sở hữu chúng. Đây là một công việc không bao giờ kết thúc và thường là một nghề rất khó. Nhưng đó là điều quan trọng nhất mà một cố vấn có thể làm.

Mục tiêu của bài viết này là giúp nhà đầu tư tìm hiểu sâu hơn về cách phân bổ cổ phiếu/trái phiếu và hy vọng các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về những gì họ sở hữu và lý do họ sở hữu chúng.

  1. Vì sao lại sở hữu cổ phiếu?

Các nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu để kiếm được lợi nhuận cao hơn. Nghe có lý thật, nhưng thực sự nó có nghĩa ra sao? Cao hơn cái gì? Cao hơn bao nhiêu? Và tại sao cổ phiếu đem lại lợi nhuận cao hơn?

Trong một thời gian dài, cổ phiếu đã mang lại lợi nhuận cao hơn trái phiếu (tăng 4.1% mỗi năm) và nhà đầu tư có thể thu được mức lợi nhuận này vì họ đã phải chấp nhận các nguy cơ về mức biến động cao hơn và mức thua lỗ có khả năng cao hơn (từ sự bất ổn kinh tế và rủi ro tăng trưởng dài hạn).

Kể từ năm 1976, danh mục đầu tư chứng khoán hoàn toàn 100% (phía bên trái ngoài cùng của bảng bên dưới) có mức lợi nhuận cao nhất (11.5%) với mức biến động cao nhất (14.7%) và mức suy giảm tối đa (-51%) trong khi danh mục trái phiếu 100% (ngoài cùng bên phải) bên dưới bảng) có mức sinh lời thấp nhất (7.3%) với mức biến động gần nhất (5.3%) và mức suy giảm tối đa (-13%).

Lưu ý:

-Chỉ số tổng lợi nhuận của S&P 500 (S&P 500 Total Return Index) đại diện cho “cổ phiếu”

– Chỉ số tổng lợi nhuận trái phiếu tổng hợp Bloomberg Barclays US (Bloomberg Barclays US Aggregate Bond Total Return Index) đại diện cho “trái phiếu”

Việc thể hiện rằng cổ phiếu đã gặt được mức lợi nhuận cao hơn với biến động cao hơn trong thời gian dài là khá dễ dàng. Cái khó chính là giải thích cho các nhà đầu tư rằng không có cơ sở nào giúp đảm bảo được mức lợi nhuận này, đặc biệt là trong khoảng thời gian ngắn hơn –

Thời gian ngắn này được tính là 10 năm. 10 năm có thể nói là rất lâu. Thật vậy, nhưng từ tháng 4 năm 2000 đến tháng 3 năm 2010, cổ phiếu giảm 6% trong khi trái phiếu tăng 84%. Và các cổ phiếu có mức biến động đến 16% so với 4% của trái phiếu.

Bài học ở đây khá rõ ràng: Cái gọi là “phần thưởng cho rủi ro” đến từ cổ phiếu còn lâu mới là cố định, và có thể có những khoảng thời gian dài mà cổ phiếu trở nên thê thảm (cổ phiếu bị mất giá với biến động cao hơn trái phiếu). Sự nhận thức được điều đó rất quan trọng trong việc đặt ra những kỳ vọng thực tế. Nếu một nhà đầu tư không được chuẩn bị trước để ứng phó với một đợt suy thoái lớn (về mặt tinh thần, cảm xúc, hoặc tài chính), họ sẽ không thể đổ tất cả số tiền của họ vào cổ phiếu được. Điều này sẽ đưa chúng ta đến chủ đề tiếp theo…

(Hãy đón xem phần tiếp theo: Nguyên tắc tối thượng trong đầu tư – Phần 2: Nhận thức về trái phiếu)

Nguyên tắc tối thượng trong đầu tư – Phần 2

Đăng Khoa – Theo SeekingAlpha