Nguyên Tắc Tối Thượng Trong Đầu Tư – Phần 2

0

Phần 2: Nhận thức về trái phiếu

Vì sao lại sở hữu trái phiếu

Nếu cổ phiếu không bao giờ rớt giá, nhu cầu sở hữu bất kỳ thứ gì khác cũng sẽ ít đi. Nhưng như đã biết, cổ phiếu có suy giảm hết lần này đến lần khác. Từ năm 1976, đã có bảy năm mà trong đó cổ phiếu đã kết thúc ở mức thấp hơn: 1977, 1981, 1990, 2000, 2001, 2002, và 2008. Trong từng năm trên, trái phiếu đã có mức kết thúc cao hơn, phần nào giúp gỡ gạc được tình thế. Với tỷ lệ chia 20/80 giữa cổ phiếu và trái phiếu, nhà đầu tư sẽ chỉ bị lỗ một lần duy nhất: vào năm 2008 (-5%). Tỷ lệ 10/90 thì còn chưa bao giờ có một năm thua lỗ nào.

Tại sao trái phiếu chất lượng cao có thể giúp “giảm chấn” từ các cuộc thoái trào như vậy? Bởi vì chúng không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản giống như cổ phiếu. Trái phiếu được điều chỉnh bởi lãi suất (cả về cấp độ và sự thay đổi tuyệt đối) trái ngược với tăng trưởng thu nhập và các chỉ số phức khác (có tác động lên cổ phiếu). Như vậy, mối tương quan tổng thể giữa trái phiếu và cổ phiếu chỉ ở mức thấp 0.21. Trong những tháng mà cổ phiếu tụt dốc, mối tương quan đó giảm xuống còn 0.00. Điều này có nghĩa là không có lý do gì để kỳ vọng rằng một tháng mất giá của cổ phiếu sẽ ảnh hưởng đến giá trị trái phiếu. Dữ liệu về kết quả thể hiện hỗ trợ cho điều này. Từ năm 1976, trong những tháng thất thu của cổ phiếu, trái phiếu đã tăng trong 60% các trường hợp đó. Tỷ lệ phần trăm trái phiếu càng cao thì càng có khả năng thu về được lãi dương khi thị trường chứng khoán bị suy sụp.

Độc giả cũng nên lưu ý trong bảng trên về một thứ rất quan trọng – rằng đầu tư cho trái phiếu không có nghĩa là sẽ bị lỗ khi cổ phiếu tăng giá. Trên thực tế, danh mục đầu tư gồm 70% trái phiếu và 30% cổ phiếu sẽ có mức tăng 90% khi cổ phiếu tăng. Có hai lý do cho điều này:

1) Trái phiếu có mức tương quan nhẹ so với cổ phiếu (0.23) trong thời kỳ tăng trưởng của cổ phiếu (tăng hết 73% số lần thống kê), và

2) Đầu tư vào cổ phiếu là hình thức đầu tư thường thấy nhất.

Để minh họa cho luận điểm thứ hai này, trước hết cần xem qua bảng thể hiện mối tương quan. Một danh mục đầu tư được phân chia đồng đều giữa cổ phiếu và trái phiếu thì có mối tương quan với cổ phiếu là 0.95 và chỉ có mối tương quan 0.50 với trái phiếu. Danh mục đầu tư này sẽ có hiệu suất tương tự như thị trường chứng khoán nhiều hơn là thị trường trái phiếu. Đây là một bất ngờ đối với nhiều người, nhưng đó là ví dụ trực quan khi cổ phiếu (trên trung bình) có mức biến động gấp 2.8 lần so với trái phiếu. Mức biến động của cổ phiếu áp đảo sự chuyển dịch của trái phiếu. Đó là lý do tại sao nếu nhà đầu tư muốn/cần danh mục đầu tư có trái phiếu nhiều hơn cổ phiếu, họ cần phải chia tỷ lệ đó gần sát mức 20/80.

Quy tắc số 1: Vẫn không đủ

Nhận thức được những gì chính mình đang sở hữu và lý do sở hữu chúng có thể là quy tắc quan trọng nhất, nhưng nó chỉ là bước khởi đầu của quá trình đầu tư, không phải là bước cuối cùng. Một khi nhà đầu tư hiểu được quy tắc đó thì con đường chông gai mới bắt đầu. Nhà đầu tư phải có niềm tin rằng kế hoạch phân bổ tài sản họ đã chọn sẽ thành công theo thời gian và phải có nghị lực để gắn bó với kế hoạch đó qua nhiều giai đoạn mà trong đó kế hoạch “không như ý” (hay còn gọi là trong thời kỳ suy thoái). Đây không phải là công việc đơn giản vì con người chúng ta là những sinh vật có cảm xúc và chúng ta ít có khả năng chịu đựng trước những tình huống không như mong muốn.

Nhưng đó lại là thách thức ẩn chứa phần thưởng ngọt ngào về sau cùng; phương pháp đầu tư khác (như đơn giản là tiết kiệm để tránh rủi ro) sẽ luôn luôn thành công nhưng sẽ khiến bạn tụt hậu trên con đường dài phía trước.

Vì vậy, hãy xem xét lại danh mục đầu tư của mình ngay hôm nay và đảm bảo rằng bạn biết bạn đang sở hữu cái gì và tại sao bạn sở hữu nó. Sau đó hãy tự hỏi nếu bạn có lòng tin và lòng dũng cảm để gắn bó với nó theo thời gian. Và cuối cùng, hãy nhớ rằng mọi nhà đầu tư đều mất tiền, ngay cả nhà đầu tư vĩ đại Warren Buffett. Đó là khoản chi phí cho chiếc vé vào cửa.

Đăng Khoa – Theo SeekingAlpha