Mỹ Có Thể Thua Trong Cuộc Chiến Tranh Lạnh Về Công Nghệ Ra Sao?

164
TET bloomberg Pham Thu Hang image - Mỹ Có Thể Thua Trong Cuộc Chiến Tranh Lạnh Về Công Nghệ Ra Sao?
Drone là công nghệ tinh xảo với chức năng kép.

Năm 1962, vào đỉnh điểm của cuộc Chiến tranh lạnh, Mỹ đã tìm cách phục hồi liên minh nhằm ngăn chặn việc xây dựng đường ống dẫn dầu của Xô Viết để cung cấp cho các lực lượng Hồng Quân tại Đông Âu. Tuy nhiên, ý định này đã không thành. Tây Đức miễn cưỡng đồng ý không cung cấp ống công nghệ cao cho dự án. Nhưng cả Anh, Ý và Nhật Bản đều từ chối đề nghị của Washington. Đường ống Hữu nghị (Friendship) được thiết lập với thời gian trì hoãn ngắn và gặp nhiều căng thẳng tại khối Tây Âu. Điều tệ hơn từ quan điểm của Mỹ là cuộc chiến tranh lạnh này đã khiến Nga tự chủ về các ống sắt.

Ngày nay, khi Mỹ tìm cách ngăn cản Trung Quốc tiếp cận công nghệ tiên tiến, nhiều người đang nói đến cuộc Chiến tranh lạnh về công nghệ như thể có sự tương đồng đơn giản với các nỗ lực của Washington trong kỷ nguyên trước để cản trở sự phát triển của đối thủ cạnh tranh chiến lược. Giả định này không chỉ gây hiểu nhầm về kinh tế Trung Quốc vì nó hoàn toàn khác với Xô Viết, mà còn khiến người ta hiểu sai về cuộc Chiến tranh lạnh.

Một bài học lớn từ cuộc đối đầu đó là kìm hãm công nghệ và ngăn cản xuất khẩu công nghệ cho đối thủ là điều cực kỳ khó. Thách thức này phức tạp hơn nhiều trong nền kinh tế toàn cầu siêu liên kết ngày nay. Thực tế, mọi nỗ lực lặp lại cuộc Chiến tranh lạnh gần như chắc chắn sẽ gây tổn hại sau cùng nhiều hơn cho nền kinh tế Mỹ cũng như các nước đồng minh so với Trung Quốc.

Hãy nhớ rằng, 1962 là năm xảy ra cuộc Khủng hoảng Tên lửa Cuba. Khi đó Mỹ và Liên minh Xô Viết sắp sửa đưa ra vũ khí hạt nhân. Nhưng ngay cả sau đó, Washington cũng không thể thuyết phục các đồng minh NATO thân cận nhất gây cản trở cỗ máy chiến tranh Xô Viết. Các nước châu Âu hoài nghi rằng mục đích thực sự của Washington là ngăn cản Liên minh Xô Viết xuất khẩu dầu sang thị trường Tây Âu và làm ảnh hưởng lợi nhuận của các gã khổng lồ năng lượng của Mỹ.

Các nghi ngờ về việc Mỹ sử dụng lệnh trừng phạt đối với Xô Viết để chơi trò chơi thương mại đã gây rắc rối cho mối quan hệ giữa Washington và các nước đồng minh trong nhiều năm. Vấn đề không phải là vũ khí quân sự thực tế. Nước nào cũng đồng ý về việc cần cản trở vũ khí, cũng như thiết bị hạt nhân của Xô Viết. Vấn đề nằm ở chỗ công nghệ với cả ứng dụng dân sự và quân sự. Trong trường hợp đó, nguyên tắc thương mại tự do mâu thuẫn với các cân nhắc về an ninh hợp pháp.

Để cân bằng các lo ngại này, một nhóm bí mật do Mỹ thành lập để giám sát việc trừng phạt Xô Viết họp mặt hàng tuần tại Paris để điều chỉnh danh sách các hạng mục bị hạn chế và thỏa thuận về các miễn trừ. Ngay cả như vậy, các công nghệ nhạy cảm vẫn rò rỉ trong khối Đông Âu từ các nước nằm ngoài CoCom, gồm cả Thụy Sĩ và Thụy Điển.

Tất cả những điều này có liên quan ngày nay khi Mỹ siết chặt việc kiểm soát xuất khẩu, chủ yếu nhằm vào Trung Quốc. Tuần trước, Bộ Thương mại Mỹ đã kết thúc phiên điều trần công khai đề xuất thắt chặt các hạn chế đối với 14 công nghệ mới nổi, gồm cả trí tuệ nhân tạo (AI) và rô-bốt. Ngoài đề xuất này, còn có một dự luật mở rộng quyền hạn của ủy ban do Bộ Tài chính Mỹ dẫn đầu về rà soát các khoản đầu tư nước ngoài vì lý do an ninh quốc phòng. Thượng nghị sĩ John Cornyn, người thuộc đảng Cộng hòa tại Texas ủng hộ dự luật này và cho rằng nó sẽ “giúp kết thúc việc chuyển giao bí mật công nghệ có chức năng kép mà không được kiểm tra trong thời gian dài.”

Tuy nhiên, những người kế nhiệm ủy ban CoCom đối mặt với các trường hợp phức tạp khó lường. Hầu như mọi công nghệ hiện đại đều có chức năng kép: AI có thể tối ưu hóa cả việc sản xuất tại nhà máy và khả năng nắm bắt trên chiến trường; drone có thể mang bom và tên lửa cũng như bưu phẩm. Rất khó để xác định các sản phẩm chứa hàng triệu dòng code phần mềm và vô số dữ liệu khách hàng, chưa kể đến theo dõi việc xuất khẩu chúng.

Các nhà sản xuất tại châu Á lo ngại nỗ lực của Mỹ có thể can thiệp chuỗi cung ứng của họ. Các bằng sáng chế của Mỹ có mặt khắp nơi trong các sản phẩm điện tử lắp ráp tại Trung Quốc. Ngoài ra, Thung lũng Silicon là nơi các công ty toàn cầu từ Nhật Bản cho đến Đức tìm đến để phát triển công nghệ như xe tự lái, phương tiện mà họ sẽ giới thiệu ở thị trường Trung Quốc. Ngăn chặn việc chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc đe dọa gây cản trở loại đổi mới này tại Mỹ và chuyển sang thị trường nước ngoài. Các động thái hạn chế thị thực Mỹ cho sinh viên khoa học và kỹ thuật Trung Quốc chỉ làm rủi ro này trầm trọng thêm.

Trung Quốc không phải là Liên minh Xô Viết.

CHINESE FLAG - Mỹ Có Thể Thua Trong Cuộc Chiến Tranh Lạnh Về Công Nghệ Ra Sao?

Trong nhiều lĩnh vực công nghệ, gồm cả AI, họ gần như ngang hàng với Mỹ. Và việc hiểu sai về cuộc Chiến tranh lạnh chắc chắn dẫn đến các chính sách sai lầm. Mặc dù việc cản trở công nghệ do Mỹ đứng đầu có thể làm chậm quá trình mở rộng của Xô Viết, hệ thống Xô Viết sau cùng đã sụp đổ do điểm yếu của chính nó như thiếu đổi mới, thiếu hàng tiêu dùng kéo dài, lập kế hoạch tập trung không phù hợp.

Rõ ràng Trung Quốc không có các điểm yếu đó. Điều này chỉ thuyết phục Trung Quốc dừng việc ăn cắp bí mật thương mại do nước này tài trợ, dừng ép buộc các công ty đa quốc gia bàn giao công nghệ để đổi lấy việc tiếp cận thị trường và thu hẹp tham vọng chi phối công nghệ thong tương lai. Và có thể yêu cầu Trung Quốc tuân thủ các quy tắc giống như các nước khác khi họ theo đuổi mục tiêu của mình.

Mặt khác, các mối quan ngại về an ninh đòi hỏi phương pháp khác với mục tiêu rõ ràng hơn nhằm giảm thiểu cả mối đe dọa và tổn hại cho kinh tế Mỹ. Tương tự, sẽ hợp lý hơn nếu trừng phạt các công ty Trung Quốc riêng lẻ hưởng lợi từ việc ăn cắp công nghệ thay vì viện đến các biện pháp “đánh hội đồng” đến toàn bộ các ngành.

Sau cùng, Mỹ cần tập trung vào khả năng cạnh tranh công nghiệp của chính mình.

Thu Hằng – Theo Bloomberg